• Single Content

    Tình hình sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap

    Sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap được áp dụng một thời gian trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên rồi, tuy nhiên việc nắm bắt Tình hình sản xuất Che thai nguyen theo tiêu chuẩn VietGap thì chưa được các nhà quản lý theo dõi, ngành nay vẫn đang thực hiện theo kiểu triển khai xong bỏ đấy, không thúc đẩy, không nghiêm túc thực hiện sẽ dẫn tới tình trạng trì trệ hoặc không triệt để áp dụng quy trình làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    Thái Nguyên là vùng chè thái nguyên trọng điểm của cả nước, với diện tích chè thái nguyên hơn 18.500ha, trong đó có gần 17.000ha chè thái nguyên kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn. Về cơ cấu giống, tổng diện tích chè thái nguyên cành trong toàn tỉnh là 7.482ha (chiếm 40,2%), trong đó giống chè Thái Nguyên LDP1 là 4.681ha; giống chè thái nguyên nhập nội là 1.841ha; giống chè thái nguyên TRI 777 là 878ha. Xác định chè thái nguyên là cây trồng mũi nhọn, những năm qua, tỉnh ta đã triển khai nhiều biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè thái nguyên, trong đó có việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP). Từ năm 2009, mô hình đầu tiên sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGAP đã được thực hiện ở xã Hòa Bình (Đồng Hỷ), sau đó tiếp tục được triển khai tại nhiều địa phương. Hiện nay, toàn tỉnh có 15 mô hình chè thái nguyên VietGAP ở các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Định Hóa, Võ Nhai, Phổ Yên, Phú Lương và T.P Thái Nguyên, với tổng diện tích khoảng 200ha. Với mục đích đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng và môi trường sống, có thể khẳng định việc nhân rộng các mô hình sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGAP là hướng đi đúng. Tuy nhiên hiện nay, việc thực hiện những mô hình này còn tồn tại nhiều khó khăn cần tháo gỡ.

    Tình hình sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap đang gặp nhiều khó khăn.

    Để tìm hiểu thực tế, chúng tôi đã đến Đại Từ, huyện có diện tích chè thái nguyên lớn nhất tỉnh. Trên địa bàn huyện đang có 4 mô hình chè thái nguyên VietGAP với tổng diện tích hơn 50ha, trong đó có 3 mô hình sẽ phải nộp kinh phí để cấp lại giấy chứng nhận trong khoảng 2 tháng nữa. Tuy nhiên hiện nay, chuyện vận động các hộ dân trong tổ hợp tác chè thái nguyên đóng góp tiền để thực hiện việc này là điều không dễ dàng. Ông Nguyễn Văn Định, Tổ trưởng Tổ hợp tác chè thái nguyên ở xóm 11, xã Tân Linh chia sẻ: “Vừa qua, khi tôi thông báo tiếp tục gia hạn giấy chứng nhận, hơn 10 hộ trong tổ đã đề nghị xin rút, không làm chè thái nguyên VietGAP nữa”. Trực tiếp tìm hiểu tại các hộ này, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến khác nhau, ngoài việc giá chè thái nguyên VietGAP không cao hơn chè thái nguyên bình thường thì nhiều hộ cũng cảm thấy mệt mỏi vì quy trình thực hiện gắt gao, phức tạp. Anh Trần Duy Hạnh, một người dân xin rút khỏi Tổ hợp tác chè thái nguyên cho biết: Sản xuất chè thái nguyên an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP khó nhất là phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, việc dùng phân vi sinh thì quy trình phức tạp. Thế nhưng khi tiêu thụ, nhiều tư thương chê chè thái nguyên xấu “mã”, vị nhạt nên trả giá sản phẩm thấp hơn từ 15-20 nghìn đồng/kg so với chè thái nguyên thường...

    Cũng giống như tại xã Tân Linh, các tổ hợp tác chè thái nguyên VietGAP ở xóm Vân Long, xã Hùng Sơn và ở xóm Lũng 1, xã Phú Lạc (Đại Từ) cũng đã đến thời điểm nộp phí gia hạn giấy chứng nhận. Nhưng sau nhiều cuộc họp, các thành viên trong cả 2 tổ vẫn không đồng ý đóng tiền để duy trì mô hình. Ông Bàng Văn Chi, Tổ phó Tổ hợp tác chè thái nguyên VietGAP ở xóm Vân Long (Hùng Sơn) cho hay: Quả thật, giá sản phẩm chè thái nguyên của các gia đình trong Tổ hợp tác không cao hơn so với giá chè thái nguyên bình thường, việc tiêu thụ thì vẫn chỉ thông qua tư thương, các tổ viên chưa thấy được lợi ích rõ ràng trong khi số tiền phải đóng góp là khá lớn nên rất khó vận động được bà con...

    Tình hình sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap. Tại huyện Phú Lương, chúng tôi nhận thấy tình trạng trên cũng xảy ra ở xóm Thác Dài, xã Tức Tranh. Chị Cao Thị Ninh, Tổ phó Tổ chè thái nguyên VietGAP xóm Thác Dài cho biết: Hiện, các hộ trong Tổ vẫn sản xuất theo kiểu manh mún, có khách đặt hàng thì bán, không có thì lại bán cho tư thương nên nhiều hộ không thiết tha với mô hình chè thái nguyên VietGAP nữa. Nếu thời điểm này có khách đặt mua hàng thì Tổ chè thái nguyên VietGAP của xóm sẽ không đáp ứng được bởi một số hộ thành viên gần như không ghi chép nhật ký sản xuất nữa, do đó không chứng minh được là họ đã sản xuất theo đúng quy trình. Như vậy, đương nhiên thị trường tiêu thụ chè thái nguyên VietGAP sẽ bị đánh mất do chính những người sản xuất chè thái nguyên theo chuẩn này...

    Tìm hiểu về Tình hình sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn VietGap

    Tìm hiểu thêm tại các huyện khác, chúng tôi đều nhận thấy tình trạng chung là người dân chưa mặn mà với mô hình chè thái nguyên VietGAP. Theo thông tin của Sở Nông nghiệp - PTNT, từ năm 2009 đến nay, toàn tỉnh có 4 mô hình chè thái nguyên VietGAP ở các xã: Hòa Bình (Đồng Hỷ), Trung Hội (Định Hóa), xóm Hồng Thái 1, Hồng Thái 2, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên) mà những hộ dân tham gia đã không nộp tiền gia hạn giấy chứng nhận, do đó khi hết vốn hỗ trợ của Nhà nước là mô hình hết hiệu lực.

    Ngoài việc người dân không muốn tiếp tục nộp tiền để gia hạn giấy chứng nhận thì tại các mô hình chè thái nguyên VietGAP còn tồn tại một số vấn đề khó khăn trong khâu quản lý. Nguyên nhân là do các mô hình chè thái nguyên VietGAP trên địa bàn tỉnh đều có diện tích nhỏ, trong khi số lượng hộ dân tham gia đông, do vậy người quản lý tổ hợp tác (là trưởng xóm) thường khó kiểm soát hết quy trình sản xuất chè thái nguyên theo tiêu chuẩn này của từng hộ. Ngoài ra, mỗi gia đình lại có một phương pháp chăm sóc, chế biến chè thái nguyên truyền thống riêng nên việc đảm bảo tuân thủ quy trình nhiều khi khó thực hiện.

    Để lại bình luận

    Sale

    Không sẵn có

    Hết hàng